Translate

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2014

VÀI NÉT VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI LÀNG TÀO



  Làng Tào Sơn ngày nay thuộc địa bàn hai xã Thanh Sơn và Thanh Thủy. Các phía Tây và phía Bắc làng phần lớn được bao bọc bởi hạ lưu sông Yên - ranh giới tự nhiên với huyện Nông Cống và huyện Quảng Xương; phía Đông giáp làng Nhật Tân (Thanh Thủy), Văn Phúc (Thanh Sơn), phía Nam giáp làng Phượng Áng (Thanh Sơn).
          Là vùng đất “sơn thủy hữu tình” với dãy núi Đồng Bàn, Nga My soi bóng xuống dòng sông Yên uốn khúc. Dù có địa thế cao trội so với các làng xung quanh nhưng địa hình cũng tương đối bằng phẳng, thấp dần về phía Tây Bắc và đa dạng về đồng đất: đồng chiêm trồng lúa; đồng mầu trồng rau, khoai, lạc; đất bãi bồi nuôi trồng thuỷ sản; một diện tích bán sơn địa đáng kể trồng cây lâm nghiệp. 


          Làng Tào Sơn ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XVI, sau khi Hoàng giáp, Thượng thư Lương Chí tổ chức tháp nhập các ấp nhỏ như ấp Loi, ấp Am, ấp Đồng Bàn, ấp Tào thành làng Tào, xã Tào Sơn. Trải qua gần 5 thế kỷ xây dựng, phắt triển, đến năm 1925, làng Tào do quy mô lớn, dân số đông, nên chia thành hai làng là Đông Tào và Tây Tào.  Đông Tào gồm các xóm: Gát Tiên, Đông Thượng, Đông Hạ, xóm Mới, xóm Cổng, xóm Gốm, Đông Thành (nay phần lớn thuộc địa bàn xã Thanh Thủy). Tây Tào gồm các xóm: xóm Bến, xóm Bèo, xóm Đình, xóm Chùa, xóm Đu, xóm Núi, xóm Cầu (nay chủ yếu thuộc địa phận xã Thanh Sơn).
          Từ xưa đến nay, Tào Sơn luôn được mệnh danh là vùng đất “sơn thanh, thủy tú” “địa linh, nhân kiệt”, con người cần kiệm, sáng tạo trong lao động sản xuất, thông minh, đỗ đạt trong học hành thi cử, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh phòng chống thiên tai, địch họa và có lối sống, lối ứng xử với nhau rất bình đẳng, dân chủ trên cơ sở đề cao thực học, thực tài, thực lực. Cư dân các dòng họ nơi đây, với 5 cửa họ lớn là Lê, Lương, Tống, Nguyễn, Hoàng, đã nối tiếp nhau xây dựng được nhiều giá trị văn hóa nổi bật và được cộng đồng dân cư các làng xã trong huyện, trong tỉnh công nhận, đề cao. Làng Tào có rất nhiều di tích thiên tạo và nhân tạo có giá trị, trong đó có 4 di tích ở làng được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh gắn với nhiều nhân kiệt tiêu biểu của các dòng tộc như Khai quốc công thần Lê Văn An, Hoàng giáp, Thượng thư Lương Chí và các tiến sỹ họ Lương, Tướng quân Nguyễn Duy Nịnh, Trấn đông tướng quân Lê Đình
          Ngự y Lương Khắc Gia (1880-1938) – một người con làng Tào, đã chấm phá bức tranh “Phong cảnh làng Tào” như sau:


Đẹp thay phong cảnh làng Tào
Sông dài và có núi cao một vùng
Lúa vàng như hạt ngọc trong
Bãi trầu xanh mướt lá trông mỡ màng
Rừng văn thơm phức mùi hương
Đàn cầm đưa những tiếng vàng thiết tha
Khoa danh kế thế bước ra
Giang sơn vẫn nở muôn hoa tuấn hào.

          Trên bề dày nền tảng truyền thống kinh tế, văn hóa, lịch sử, đất và người làng Tào từ bao đời đến nay luôn sản sinh, nuôi dưỡng nên nhiều nhân vật tài đức và chính họ lại góp phần làm rạng danh người và đất quê hương. Hoàng giáp Lương Chí và các tiến sỹ họ Lương: Lương Nghi, Lương Lâm là những nhân vật như vậy.

                                                                                     Người Họ Lương


Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014

THƯ CÁM ƠN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


THƯ CÁM ƠN
Kính gửi:
-         Lãnh đạo UBND tỉnh Thanh Hóa;
-         Lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành tỉnh Thanh Hóa;
-         Lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ huyện Tĩnh Gia;
-         Lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã Thanh Sơn, Thanh Thủy;
-         Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam;
-         Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thanh Hóa;
-         Đại diện họ Lương Việt Nam;
-         Quí Mạnh thường quân, Đại biểu khách quý;
-         Các thế hệ con trai, con gái, con dâu, con rể; các cháu nội, ngoại của dòng tộc cùng bà con nhân dân;
-         Các cơ quan báo đài đến đưa tin.
          Nhân dịp kỷ niệm 404 năm ngày mất của Hoàng giáp Lương Chí (23/10/1610-23/10/2014 âm lịch), dòng tộc họ Lương Tào Sơn (Thanh Sơn - Thanh Thủy) đã tổ chức lễ hoàn công công trình trùng tu, tôn tạo Đền thờ Hoàng giáp và các Tiến sĩ họ Lương. Họ Lương Tào Sơn rất vinh hạnh được đón tiếp quí vị đại biểu, các vị khách quý, bà con xa gần về tham dự và chung vui cùng dòng tộc, quê hương. Sự hiện diện quí vị đại biểu, khách quí và toàn thể bà con đã để lại trong lòng dòng tộc họ Lương Tào Sơn những tình cảm sâu sắc, tốt đẹp. 
Sự ghi nhận, biểu dương của các quý lãnh đạo các cấp, các vị đại biểu khách quý đối với Hoàng giáp Lương Chí và dòng tộc họ Lương là nguồn cổ vũ, động viên rất lớn đối với các thế hệ con cháu của ông. Họ Lương Tào Sơn xin trân trọng cảm ơn quý vị về những đánh giá và những tình cảm tốt đẹp. Đây còn là niềm khích lệ, động viên cho họ Lương Tào Sơn tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp mà tổ tiên đã dày công vun đắp, góp phần vào việc xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh. Đồng thời, ra sức gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị của Di tích.

Ông Trương Bá Phúc - Bí thư Huyện ủy Tĩnh Gia dâng hương tại Đền thờ

     Dòng tộc họ Lương Tào Sơn xin được trân trọng cảm ơn: UBND Tỉnh, các đồng chí lãnh đạo Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch, Sở Tài chính, Ban Quản lý di tích và danh thắng, Ban Nghiên cứu biên soạn lịch sử Thanh Hóa; Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ huyện Tĩnh Gia, Phòng Văn hóa - Thông tin, Phòng Công thương, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện cùng các cơ quan, ban, ngành huyện Tĩnh Gia; Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ hai xã Thanh Thủy, Thanh Sơn; toàn thể quý vị đại biểu khách quý, các thế hệ con trai, con gái, con dâu, con rể, các cháu nội, ngoại của dòng tộc cùng bà con nhân dân đã tạo điều kiện thuận lợi, ủng hộ, giúp đỡ cả về trí tuệ, công sức, tiền của, giúp hoàn thành sớm công trình tôn tạo Đền thờ Hoàng giáp Lương Chí và các Tiến sĩ, cũng như sắp xếp thời gian quý báu đến dự Lễ và chung vui cùng dòng tộc. Nhân dịp này, dòng tộc họ Lương xin ghi nhận công lao của Kiến trúc sư Nguyễn Văn Đăng cùng cộng sự đã giúp đỡ việc quy hoạch, thiết kế trùng tu, nâng cấp công trình văn hóa lịch sử có tuổi đời hơn 4 thế kỷ.          
            Với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, toàn thể dòng tộc kính thỉnh vong linh Hoàng giáp - Tham tụng - Thượng thư Lương Chí cùng vong linh tiên tổ phù hộ độ trì cho toàn thể quý vị đại biểu khách quý, bà con nhân dân, con cháu nội, ngoại và gia đình bình, an, khang, thái.             
Mặc dù đã cố gắng, nhưng trong quá trình chuẩn bị, tổ chức, đón tiếp sẽ không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót. Dòng tộc họ Lương Tào Sơn rất mong nhận được sự cảm thông và chia sẻ của quý vị.
Trước thềm năm mới 2015, xin kính chúc các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh, cấp huyện, Ban Liên lạc dòng họ Lương Việt Nam, đảng bộ, chính quyền các xã Thanh Thủy, Thanh Sơn…. cùng toàn thể quý vị đại biểu, các vị khách quý, bà con nhân dân, con cháu nội, ngoại sức khỏe, hạnh phúc và thành công. Năm mới thắng lợi mới.
Trân trọng cảm ơn.
                                                  Ngày 16 tháng 12 năm 2014

                                                Ban trị sự họ Lương Tào Sơn

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌ LƯƠNG TÀO SƠN TỪ THẾ KỲ XV ĐẾN NĂM 2014




          Vào đầu thế kỷ XV, ông Lương Sơ thụy Ngộ Phúc người giáp Cổ Hoàng, thôn Trác Vĩnh (đến đời hậu Lê đổi thành thôn Hội Triều, nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa) tham gia phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ông vào Tào Sơn, huyện Ngọc Sơn lấy vợ rồi ở lại đây làm ăn sinh sống, phát triển thành chi họ Lương Tào Sơn.
          Ông Lương Sơ thụy Ngộ Phúc là con trai thứ 2 của ông Lương Tôn Huệ (đời thứ 7), là em ruột của ông Lương Hay. Vốn là dòng họ học hành khoa bảng, nếp nhà trung hậu, đời đời nối đức chăm chỉ làm ăn, mưu cầu đại phúc.  Ngay từ thời đó, cụ thủy tổ họ ta đã quyết tâm vì nước xông pha, vì nhà gây dựng. Buổi ban đầu chí chưa thành, danh chưa toại tự thấy mình trí dài, tài ngắn đang buổi loạn ly, chẳng vẹn đường trung thì cũng tròn đường hiếu. Ông quyết tâm vào Tào Sơn xây dựng gia đình, lập quê hương mới bởi thấy nơi đây có sơn thủy hữu tình, đất đai rộng rãi, đồng ruộng phì nhiêu, dẫu rằng trước mắt là gian lao nhưng tương lai sán lạn.
          Theo Tộc phả chép thì chi họ Tào Sơn ta có 4 đời độc đinh, đến đời thứ 5, ông Lương Phượng Tầm lấy bà Lê Thị Tảng sinh được 3 người con trai là Lương Thừa, Lương Thải (Chí), Lương Lao (người con trưởng Lương Thừa mất sớm). Kể từ đây mới bắt đầu phát đinh và  phát triển về học hành, khoa bảng. Cũng kể từ đây, chi họ có sự chuyển ngôi thủy tổ (theo luật pháp “lập tử dĩ quí” của triều Lê). Đức Đại vương Lương Thải (Chí) được tôn lên làm thủy tổ chi Tào Sơn. Ông Lương Lao được tôn lên làm thủy tổ chi xóm Bèo (Tây Tào). 5 đời trước được tôn lên 5 bậc tị tổ. ông Lương Sơ thụy Ngộ Phúc là thủy tị tổ khảo, bà hiệu Từ Hạnh là thủy tị tổ tỉ. Đây là trường hợp đặc biệt chỉ có ở chi họ Tào Sơn có “Thủy tị tổ” và “Thủy tổ”.
          Như vậy, từ giữa thế kỷ XVI, dòng tộc họ Lương Tào Sơn đã có sự  phát triển có tính chất bước ngoặt về mọi mặt. Đến nay, tổng số đinh trong dòng tộc là trên 400 người, cư trú chủ yếu ở Đông Tàò, Tây Tào; một lượng lớn con cháu công tác và lập nghiệp tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Cần Thơ… Ngoài ra, trước đó, vào cuối thế kỷ XVI, còn có một số hộ từ Tây Tào tái cư vể Hoằng Hóa để giữ mộ Tổ tại núi Kim Trà (núi Nghĩa Trang), lập nên chi họ Lương Hoằng Khánh và là quê hương của Tiến sỹ Lương Đạt đỗ đại khoa năm Đinh Sửu ( 1637).
          Cũng như cư dân nhiều dòng họ khác ở đất Tĩnh Gia, Thanh Hóa và trên mọi miền đất nước, các gia đình họ Lương ở Tào Sơn đều có truyền thống canh nông “dĩ nông vi bản”, nên dưới ách thống trị của phong kiến ròng rã mấy trăm năm, đời sống hết sức đói nghèo, cơ cực. Sau Cách mạng tháng Tám (1945), trải qua hơn 6 thập kỷ sống dưới chế độ mới, đặc biệt kể từ ngày thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng (1986) đến nay, đời sống của các tầng lớp nhân dân trong đó có các gia đình dòng họ Lương có sự phát triển vượt bậc: 100% hộ gia đình đã thoát nghèo; nhiều hộ trở nên khá giả, giàu có. Truyền thống tự lực, tự cường, tự thân lập nghiệp, chăm chỉ làm ăn của tổ tiên đã được phát huy, xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, góp phần tô điểm quê hương ngày càng tươi đẹp, trù phú.
          Cùng với chăm lo phát triển kinh tế, các gia đình, các thế hệ con cháu dòng tộc đều tự hào về truyền thống hiếu học, truyền thống khoa bảng nên hết sức nỗ lực chăm lo việc học tập, rèn luyện. Từ bao đời, chăm học, học giỏi và thành đạt là một trong những tiêu chí đánh giá quan trọng nhất của các gia đình trong dòng tộc. Nếu thời kỳ phong kiến họ Lương Tào Sơn có 4 người đỗ đại khoa là Hoàng giáp Lương Chí, các tiến sỹ Lương Nghi, Lương Lâm, Lương Đạt và 11 cử nhân, 11 tú tài; thì chỉ gần 70 năm dưới chế độ mới (1945-2014), dòng họ đã có 4 người đạt học vị tiến sỹ là Lương Khang, Lương Minh Tuân, Lương Thị Hồng Liên, Lương Minh Chung, 1 bác sỹ chuyên khoa II, hàng chục thạc sỹ, cử nhân, kỹ sư đang công tác trên mọi miền Tổ quốc. Ngoài ra, còn có khoảng gần hai chục cháu là sinh viên đang nỗ lực học tập ở các giàng đường đại học.
          Cũng như cư dân các dòng họ khác, người họ Lương Tào Sơn không chỉ nổi tiếng ham học, ham làm, cần cù chịu khó, mà còn là những con người có khí chất cương trực đến nóng nảy, ghét cường quyền, yêu nước và yêu quê hương sâu sắc. Bởi vậy, cùng với các dòng tộc trong làng, ngoài xã, dòng họ trải bao đời đều nỗ lực đóng góp xây dựng bảo vệ quê hương, Tổ quốc giàu đẹp. Nếu các bậc tiên tổ như Lương Chí, Lương Nghi, Lương Lâm cùng với Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Bản nhãn Lương Đắc Bằng, Thượng thư Lương Hữu Khánh, có công lớn trong việc xây dựng và trung hưng triều Lê, thì vào đầu thế kỷ XX, một số con em dòng tộc với nhiều nỗ lực vượt bậc tích cực tham gia vào phong trào yêu nước và công cuộc đấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tiêu biểu là Ngự y Lương Khắc Gia (1880-1938). Ông không chỉ là thầy thuốc giỏi mà còn là một trong những người có công sáng lập nên Trường Sơ học Tào Sơn (1920). Đền thờ ông tại thôn Trúc Hóa xã Tượng Sơn (nay thuộc huyện Nông Cống) được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Ông Lương Phụng Sồ là bậc lão thành  cách mạng; nguyên là học sinh Trường Quốc học Huế, thư ký của chí sỹ Phan Bội Châu; tham gia phong trào yêu nước bị địch bắt và bị tù đày cùng với các nhà cách mạng Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và nhiều nhân sĩ trí thức khác. Ông Lương Đức Dương là sỹ quan quân đội, từng hoạt động cách mạng tại Thái Lan, Lào thập kỷ 40 của thế kỷ XX.  Ông Lương Côi, nguyên là Ủy viên Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Tĩnh Gia (1945), phụ trách quân sự. Ông Lương Minh Châu, Đại tá, nguyên Cục trưởng Cục chính sách Bộ LĐTBXH, ông Lương Sang, nguyên Trưởng phòng của Tổng cục Thống kê đều là những người tham gia vào cuộc Tổng Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 tại huyện Tĩnh Gia.
          Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, các thế hệ con cháu trong dòng tộc tích cực tham gia xây dựng hậu phương vững mạnh, đóng góp tích cực sức người, sức của cho tiền tuyến. Nhiều thanh niên trong họ hăng hái tòng quân lên đường chiến đấu giành lại độc lập, tư do và thống nhất đất nước. Có nhiều người trong số đó đã vĩnh viễn không trở về quê hương với gia đình, anh em thân tộc.Tổng kết hai cuộc kháng chiến, nhiều gia đình, con em trong dòng tộc vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng những phần thưởng cao quý. Có gia đình 5 người con và cháu đều là sĩ quan quân đội; có gia đình là tấm gương tiêu biểu của xã và huyện trong việc tham gia các phong trào ủng hộ kháng chiến. Cả họ có nhiều người tham gia quân đội, trong đó có 2 liệt sỹ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, 6 liệt sỹ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và thời kỳ xây dựng, bảo vê Tổ quốc (1976 đến nay) cùng nhiều thương binh các hạng.
          Như vậy, kể từ khi cụ Lương Sơ về định cư ở đất Tào Sơn đến nay đã trải qua 21 đời với thời gian gần 600 năm. Tuy là khoảng thời gian chưa dài trong dòng chảy lịch sử dân tộc, nhưng dòng họ đã có bước phát triển vượt bậc về mọi mặt. Các thế hệ con cháu trong dòng tộc luôn nỗ lực lao động, học tập, công tác góp phần tạo dựng nên truyền thống tốt đẹp, vẻ vang, khẳng định vị thế  họ Lương Thanh Sơn-Thanh Thủy là dòng họ lớn, có nhiều đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp, hướng tới tương lai tươi sáng, xây dựng dòng tộc đoàn kết, phát triển hơn nữa, xứng đáng với công lao mà tổ tiên đã dày công gây dựng là ý nguyện của con cháu hôm nay và mai sau.

(Nguồn họ Lương Tào Sơn)

LẦN VỀ DẤU XƯA

(Về thân thế, sự nghiệp của Hoàng giáp Lương Chí
và các Tiến sĩ Lương Nghi, Lương Lâm)



1. Hoàng giáp Lương Chí
          Cụ huý Thải, tự Chí, sinh vào giờ Bính Ngọ, ngày mùng 2 tháng 7 năm Nhâm Dần (1542) trong một gia đình nông dân nghèo. Thời niên thiếu, ông thông minh, ham học, theo thầy ra tận xã Lê Xá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để học. Sau đó, ông lại ra huyện Gia Phúc, tỉnh Hải Dương để học với Tiến sĩ Phạm Khắc Kiệm.
          Ông sinh ra trong thời buổi loạn lạc, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, sau đó nhà Lê ở vào thời kỳ Trung hưng, xây dựng cơ nghiệp tại Thanh Hóa nên chưa có điều kiện mở các khoa thi. Mãi đến khi ông 47 tuổi, nhà Lê mới mở khoa thi để chọn nhân tài ra giúp nước. Năm Quí Mùi (1583) ông thi đậu Cống sĩ loại ưu. Năm Kỷ Sửu (1589) vào thi Đình ông đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ, Đệ nhị danh (Hoàng giáp).
          Sau khi thi đậu, ông được bổ dụng vào Hàn lâm hiệu lí. Năm Quang Hưng thứ 16 (1593), giữ chức Đô tướng thái úy trưởng quốc công phụng nghinh thánh giá  tiến về Thủ đô Thăng Long, được Vua phong 2 cấp: Hiển cung đại phu, Sơn Nam xứ, Hiến sát sứ. Năm Quang Hưng thứ 19 (1596), do có công phụng thánh giá Vua trở về thăm quê cũ-  “Thang mọc ấp” ở Thanh Hóa nên được vinh phong Hiệp mưu tá lí công thần, quang tiến thân lộc đại phu, tước Văn thuần nam.
          Năm Canh Tí (1600), ông được phong “Lễ Bộ Tả thị lang” (Thứ trưởng bộ Lễ), phụng sai “Bồi tụng” (Phó Tể tướng). Năm Tân Sửu (1601) được phong “Đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu”, Lại bộ Tả thị lang (Thứ trưởng bộ Lại), và được cử làm giám khảo thi Hương ở Nghệ An. Tháng 4 năm Quí Mão (1603), ông là khâm sai giám khảo thi Hương đạo Kinh Bắc và khâm sai khoa thi Hội tại Thăng Long. Năm Hoàng Định thứ 5, Ất Tị (1605), thăng Hộ Bộ Tả thị lang (Thứ trưởng bộ Hộ), nhập thị kinh diên. Đến tháng 12 cùng năm được thăng Hộ bộ Thượng thư (Bộ trưởng bộ Hộ), Tri kinh diên sự, tước Thuần lễ bá, khâm sai giám khảo thi Hương. Tháng 8 năm Hoàng Định thứ 8 (1608), do có công lĩnh được Thiên Triều ngân ấn, ông được vinh phong thêm chức Tham tụng (Tể tướng) kiêm “Quốc tử giám Tế tửu”. Năm Canh Tuất (1610) ông đang làm việc tại triều thì bị bệnh và qua đời vào giờ Dần, ngày 23 tháng 10, thọ 69 tuổi. Triều đình ban quan quách, đồ khâm liệm, cấp tuất và 10 thuyền chiến, một đội quân, 6 vị quan hộ tống đưa linh cửu theo đường thủy về quê an táng.
          Trong hơn 20 năm làm quan, trải nhiều chức vị trọng yếu trong triều, Hoàng Giáp Lương Chí đã lập nhiều công lao góp phần trung hưng nhà Lê và giữ vững nền độc lập dân tộc. Ghi nhận công lao to lớn đó, sau khi ông qua đời, các triều đại phong kiến nước ta về sau tiếp tục truy phong ông nhiều tước hiệu cao quý. Ngày mùng 6 tháng 5 năm Kỷ Tỵ (1629), Đức Long nguyên niên, được truy phong “Thái Bảo Tào Quận Công”. Ngày 26 tháng 7 năm Quý Mão (1783), niên hiệu Cảnh Hưng, truy phong “Kinh văn vĩ quốc dực vận phù tộ, diễn khánh thùy hưu, tá khánh phụ quốc, tích hổ khang dân Đại Vương”. Đến triều Nguyễn truy  phong: “Thông chính cẩn khác, khoan đại đoan túc, dực bảo trung hưng, trác vĩ Thượng đẳng thần”.
          Mặc dù khi đang làm quan tại triều, nắm giữ những chức trọng quyền cao, bận rộn trăm công nghìn việc nhưng ông vẫn quan tâm, lo lắng đến quê hương đất tổ. Ông thấy ở đây đất rộng người thưa, có 4 làng ở xa nhau gồm: làng Loi, làng Am, làng Đồng Bàn, làng Tào. Trong đó làng Tào nằm ở khu Mã đội lấy nghề trồng trầu, trồng mía làm nguồn sống chính, đời sống thấp kém lạc hậu, mọi mặt khó khăn. Ông đứng ra vận động hợp nhất 4 làng thành một, tập trung dân vào nơi trung độ và đặt tên là Tào Sơn xã, Tào thôn. Mở đường để dân đi lại thuận tiện, lập đền để dân có nơi thờ cúng, làm đình để dân có nơi hội họp, mở chợ để dân có nơi trao đổi buôn bán. Tổ chức lớp học chữ Hán để con em có nơi học hành nâng cao dân trí. Đặt hương lệ để dựa vào đó ràng buộc lẫn nhau và giữ gìn an ninh thôn xóm, uốn nắn nếp sống đi vào thuần phong mỹ tục. Sau đó ông lại gom dân lập thêm 2 làng mới: làng Văn Phúc ở phía Nam (nay thuộc Thanh Sơn) và làng Nhân Mỹ (còn gọi là làng Thắng Cảnh hay làng May) nay thuộc xã Tượng Văn, huyện Nông Cống. Hai làng mới lập nằm ở vành đai phía ngoài nhằm tạo thế giữ gìn an ninh tầm xa để bên trong được bình yên. Bốn làng hợp nhất, dân cư yên ổn nhưng đời sống vẫn còn khó khăn vì chưa có ruộng cấy lúa 2 vụ. Năm niên hiệu Hoàng Định thứ 2 (1602) ông được phụng sai về Thanh Hóa nghiên cứu, xem xét địa hình và tổ chức đắp cho Thanh Hóa một con đê nằm giữa 3 huyện: Ngọc Sơn, Nông Cống và Quảng Xương từ sông Chuồng chạy ra cửa lạch sông Yên (chữ Hán ghi: Thượng tự chung giang hạ chí hàn khẩu). Ông lĩnh 2 con voi  về dày đất đắp đê. Nhân thời cơ này ông tổ chức công trường đắp cho làng một đoạn đê dài khoảng 3-4 km từ đò Trạp đến bến đò Giang Tiên. Khi đắp đê do bùn đất sình lầy làm một con voi bị sa lầy và cảm mạo chết. 
          Đức Thủy Tổ Đại Vương mất được 3 năm, đến năm Nhâm Tí (1612) có lệnh chỉ về làng cho lập đền thờ, nhưng cháu nội là tiến sĩ Lương Nghi nhận để con cháu trong họ đảm nhiệm để đỡ tốn kém cho dân, còn làng tổ chức thờ chung tại nghè thành một vị Thành Hoàng của làng.
          Ngày giỗ 23 tháng 10 (âm lịch) hàng năm tổ chức thành ngày đại lễ, tập trung tất cả con cháu trong họ và nhân dân đến dự, mục đích để tỏ lòng nhớ ơn ông về những công lao to lớn đối với nước, với dân; Lấy đó làm tấm gương để giáo dục con cháu tu dưỡng học tập. Trước ngày giỗ, sáng 22 nhân dân trong làng tập trung dọn đường sạch sẽ để 12 giờ trưa họ khiêng kiệu rước sắc từ nghè làng về nhà thờ tế yết vào buổi chiều. Ngày giỗ, làng Tào cấm đồng (nghỉ sản xuất) để nhân dân trong làng đến dự lễ. Ba làng Tào Sơn (cả Đông – Tây Tào), Văn Phúc, Nhân Mỹ sắm lễ vật: trầu rượu, hương đăng đến nhà thờ tiến lễ.



Văn bia đền thờ Hoàng giáp Lương Chí và các Tiến sĩ Lương Nghi, Lương Lâm

          2. Tiến sĩ Lương Nghi
          Ông Lương Nghi sinh ngày 22 tháng 10 năm Giáp Dần (1614), là con trai đầu của ông Lương Yến, cháu nội của đức thủy tổ Đại Vương. Ông sinh ra đã có tướng mạo kỳ vĩ, khí chất thông minh. Năm 18 tuổi thi tứ trường đạt loại ưu, tiếp đó thụ nghiệp với Quốc lão Thượng thư Phạm Công Trứ người xã Liên Châu, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương.  Khoa Quí Mùi (1643), năm 30 tuổi, ông thi đậu Tiến sĩ.  Sau khi thi đậu, được bổ dụng ra làm quan, giữ chức Hàn Lâm hiệu lý rồi trải qua các chức Nội tán tham đồng, Tham trị Đông Các, Tham chính tự Khanh, được Vua phong tước “Tử” . Ông thạo tiếng Tàu nên được cử đi sứ, cùng sứ thần nhà Minh giải quyết nhiều việc cho ta. Được họa sỹ người Tàu vẽ cho một bức chân dung trên nền lụa trắng để lưu niệm nhưng không may bị hỏa hoạn cháy cùng với các sách quý như: bộ Bích Ngọc, sách thuốc, sách địa lý …Năm 70 tuổi ông về hưu tại quê nhà, được 11 năm thì mất, thọ 81 tuổi. Ông mất vào ngày 18 tháng 7 năm Giáp Tuất (1694), đến ngày 24 tháng 3 năm Ất Mùi (1715) rước linh hài lên cát táng ở xứ Học lửa núi Linh Sơn, tọa Tí, hướng Ngọ
          Đối với Họ:  Ông tiếp tục sáng lập bản tôn từ đường (nhà thờ Họ) để thờ đức Thủy Tổ và các bậc Tiên Tổ; Mời ông Hòa Chính, thầy Địa lí giỏi về phân kim định hướng đền Thờ. Năm Thịnh Đức thứ 5 (1657), ông tự bỏ tiền ra mua của làng cả mặt phía Nam núi Linh Sơn, rồi chọn khu Học Lửa làm nghĩa trang của dòng Họ để cất mộ của tổ tiên. Ông nhờ ông Hòa Chính tìm huyệt phân kim định hướng rồi rước linh hài đức Thủy Tổ Đại Vương lên an táng (ngày 6 tháng 5 năm Kỷ Tị, 1689)
          Đối với Làng: Ông tiếp tục tổ chức bồi trúc con đê mà ông nội đắp trước đây (từ đò Trạp xuống bến đò Giang Tiên). Đắp xong hoàn chỉnh ông sáng tạo ra ngũ 7 thước 5 ta (3m ngày nay) để làm chuẩn chia ruộng cho dân. Phương pháp chia ruộng thành đạc dài cài nhau tựa như đan nống, tạo thành nhiều trốc phần (tức là phần đầu) để tạo lối đi và hạn chế việc chèn lấn ruộng của nhau, gây mất đoàn kết. Ông tiếp tục chỉnh đốn hương phong, xây dựng thành bản Hương lệ đi đôi với việc lập ra các tổ chức theo lứa tuổi như từ 54 tuổi trở lên là phụ lão, người cao tuổi nhất trong giới lão gọi là Thủ chỉ. Thủ chỉ được giới lão tôn trọng và các giới khác trong làng phải tôn trọng chung. Từ 37 đến 53 tuổi được gọi chung là trầm. Trong giới trầm lại phân ra làm 2: từ 37 đến 50 tuổi được miễn một số công việc nặng nhọc, từ 51 đến 53 được gọi là trầm nhưng được miễn tất cả phu phen tạp dịch ...
          Hương ước là thứ luật riêng của làng, được rút kinh nghiệm từ ông nội để lại. Ông đã cụ thể hóa thêm và lấy đó làm cơ sở để giáo dục cho mọi người đi vào khuôn khổ, xây dựng nếp sống, thuần phong mĩ tục, loại bỏ những tập tục lạc hậu, những thói hư tật xấu làm cho Tào Sơn văn minh tiến bộ, có tiếng là làng Văn Hiến của đất Tĩnh Gia. 
          3. Tiến sĩ Lương Lâm  
          Ông húy Nghị, tự Lâm, sinh giờ Ất Hợi ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Tị (1689). Thời kỳ mẹ ông đang mang thai thường nằm mộng thấy có ngôi sao chiếu vào cửa sổ, sau sinh ra ông tính tình trầm lặng, thông minh, ham học, đọc sách suốt năm canh, lúc nào cũng cầm quyển sách trong tay. Năm 1702, khoa Nhâm Ngọ, 14 tuổi đi thi đứng đầu xứ huyện, sau theo học với quan Tả mạc Lê Cận ở Thanh Hoa rồi tiếp tục đi thụ nghiệp với Thám hoa Vũ Thành. Năm Vĩnh Thịnh thứ 7, khoa Tân Mão (1711) thi đậu Cống sĩ. Khoa Ất Mùi (1715) thi đậu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, đồng khoa với thầy học là Lê Cận. Khi đậu đaị khoa cha mẹ còn trường mạnh nên cả gia đình vô cùng phấn khởi. Ông được bổ dụng làm giám sát ngự sử đạo Kinh Bắc. Năm Nhâm Dần (1722) phụng sai Đốc đồng xứ Hải Dương. Năm Kỷ Hợi (1719) ông làm bản sớ “Cố quốc gia nguyên bản”  được Vua ban xuống thi hành. Năm Canh Tí (1720) Đốc đồng xứ Hải Dương hết 3 tháng, chuyển nhiệm đến tỉnh Lạng Sơn gặp Bắc Triều để tra cứu sự việc tại biên giới 2 nước, rồi lại đến nhận chức Đốc đồng xứ Tuyên Quang. Đồng thời được thăng Sơn Nam Đạo giám sát ngự sử. Tái phụng đến cửa ải 2 nước và được Vua ủy nhiệm lĩnh Thiên triều ngân ấn. Nhiệm vụ hoàn tất, trở về Thăng Long sau một thời gian thì lâm bệnh và qua đời vào ngày 27 tháng 11 năm Ất Tị (1725).

     (Nguồn Họ Lương Tào Sơn)