Translate

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

HOÀNG GIÁP LƯƠNG CHÍ – NGƯỜI MANG LẠI PHÚC ẤM CHO LÀNG

Đền thờ Hoàng giáp và các Tiến sĩ họ Lương Tào Sơn đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp Tỉnh năm 1998. Hơn 400 năm qua, dù được sửa chữa nhiều lần, nhưng đền thờ vẫn bị xuống cấp. Suốt năm 2014, con cháu họ Lương khắp mọi miền đất nước đã đồng sức, đồng lòng trùng tu, tôn tạo lại khu di tích đền thờ, khu lăng mộ, nhà bia và khánh thành vào dịp giỗ Tổ 23/10 (âm lịch). Trân trọng kính báo tin vui đến anh em họ Lương.


HOÀNG GIÁP  LƯƠNG CHÍ – NGƯỜI MANG LẠI PHÚC ẤM CHO LÀNG

Lương Chí sinh ngày hai tháng bảy năm Nhâm Dần (1542), tên thật là Thải. Ông quê ở xã Tào Sơn, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia (nay là một phần của hai xã Thanh Sơn và Thanh Thủy huyện Tỉnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Tộc phả họ Lương ghi Lương Chí thuộc dòng dõi Thượng thư Lương Đắc Bằng ở Hội Triều (nay là xã Hoàng Phong huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, hiếu học. Năm Quang Hưng thứ mười hai (1589), ông thi đậu Tiến sĩ đệ nhị giáp đệ nhị danh (Hoàng giáp)  khoa Kỷ Sửu. Năm Quang Hưng thứ mười sáu (1593), ông được phong chức Thái úy; năm thứ mười tám (1595) ông được phong chức Hàn lâm viện. Năm Thuận Đức Nguyên (1600), ông được phong Lễ bộ tả thị lang. Năm Hoàng Định Nguyên (1601), ông được thăng Lại bộ tả thị lang, Khâm sai giám khảo thi Hương Nghệ An, Kinh Bắc và Khâm sai giám khảo thi Hội Thăng Long. Năm 1608, ông được vua cử sang Trung Quốc xóa vạ Liễu Thăng. Vì có công lớn, ông được nhà vua ban "Đặc mệnh bất bái" (vào chầu không phải bái lạy) và “Mỗi phụng nhập tiến mãn đế mệnh thừa mã chí đông Tràng An môn thủy hạ”. Nghĩa là, “Mỗi lần vào vào chầu vua, cho phép được cưỡi ngựa đến cửa đông Tràng An mới phải xuống”. Cùng năm ấy, ông được phong làm Hộ bộ thượng thư kiêm Quốc tử giám, Chủ khảo khoa thi Hội.
Bên cạnh những đóng góp của ông đối với đất nước mà các nhà nghiên cứu đã khẳng định, công lao của Hoàng giáp Lương Chí với quê hương cũng cần được nói tới. Những năm làm quan ở Thăng Long, Lương Chí đã đưa voi về mở đường, đắp đê sông Yên – con đê nằm giữa ba huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia và Nông Cống. Cho đến ngày nay, con đê ấy vẫn vững chãi với thời gian và được người đời sau bồi đắp, giữ gìn mãi cho dân làng. Con đê ấy vừa ngăn nước mặn, vừa ngừa lũ lụt tràn vào làng. Nhờ vậy, nhân dân làng Tào có ruộng cấy cày hai vụ, mùa màng bội thu; vườn trầu, vườn mía xanh tốt quanh năm. Nhân dân ấm no, học hành thi cử đỗ đạt. Người huyện Ngọc Sơn (Tĩnh Gia ngày nay) gọi làng Tào là đất văn hiến, trầu mật (trồng trầu và làm mật mía). Nơi quản tượng và voi ở  xưa được nhân dân gọi là cửa Quản. Nơi nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe cho người đắp đê được gọi là cồn An Xá. Con đê rất dài, vì thế, khi đắp đê, không may một con voi bị chết, phải đền cho triều đình. Cách đền là lấy tre đan sọt to bằng con voi lúc sống, đổ đầy tiền đồng vào. Người Tào Sơn đã tự nguyện góp tiền đổ đầy cái sọt khổng lồ ấy. Trong những người có tấm lòng cao đẹp, có một người phụ nữ tự nguyện đổ tiền đồng đầy một chân voi. Khi bà qua đời, cảm kích công ơn với quê hương, dân làng đã lấy tên bà đặt tên cho giếng làng. Trải qua mấy trăm năm, giếng làng vẫn trong mát, ngọt ngào và chảy mãi như dòng sưa mẹ hiền. Trên đường vào đền thờ Hoàng giáp Lương Chí, người đi xa trở về thường dừng lại giếng làng, soi mình vào mạch nước quê hương mà nghĩ về mấy trăm năm về trước. Người dân gọi giếng làng là giếng bà Hậu. Phải chăng, tên bà cũng toát lên tấm lòng nhân hậu, vị tha của con người một vùng sơn thủy hữu tình.
Công lao của Hoàng giáp Lương Chí không chỉ đắp đê, mở đất, mở đường, mà còn lập hai làng mới là làng May và làng Thượng; hợp nhất bốn làng: Loi, Am, Tào và Đông Bàn thành xã Tào Sơn. Đặc biệt, ông có công mở chợ; chăm lo sinh hoạt tinh thần như: lập đình chùa, tổ chức dạy học chữ Hán cho dân.
Ngày 23 tháng 10 năm 1610, ông mất tại Thăng Long, hưởng thọ 69 tuổi. Linh cửu ông được đưa về làng Tào và an táng tại thung lũng Học Lửa núi Linh Sơn. Ông được triều đình gia phong là Thái bảo Tào Quận công, tước Thuần lễ hầu, ban tên thụy là Hiền khanh phủ quân. Nói cách khác, ông được nhà vua "ghi tên" vào thế giới người Hiền. Vua sai dân địa phương lập đền thờ, cấp cho con cháu họ Lương 50 mẫu ruộng cấy cày, dùng vào việc thờ phụng. Người dân gọi vùng đất vua ban là đồng họ Lương. Theo thời gian, các triều vua Lê, vua Nguyễn đều ban sắc phong phúc thần, công thần. Cuộc đời  hai mươi mốt năm làm quan của Hoàng giáp Lương Chí đã để lại những dấu ấn tốt đẹp, tiếng thơm trong sử sách và trong lòng nhân dân. Nối tiếp con đường khoa bảng mà kẻ sĩ dấn thân, các đời con cháu ông đều học hành đỗ đạt, làm rạng rỡ công danh cho đất học xứ Thanh. Cháu nội ông là Lương Nghi thi đậu Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1643). Cháu nội của Lương Nghi là Lương Lâm thi đậu Tiến sĩ khoa Ất Mùi (1715). Nhìn lại một chặng đường phúc ấm, hiển vinh, người họ Lương khẽ nhắc lại câu đối sau:

“Văn Tiến sĩ công danh vinh hiển
Võ Công Hầu phúc ấm lưu quang”

Tên tuổi Hoàng giáp Lương Chí cùng các hậu duệ của ông đều được ghi vào danh bia tiến sĩ ở Văn Miếu và mãi là tấm gương sáng cho con cháu đời sau noi theo.



Người Họ Lương

TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG XƯA CỦA HỌ LƯƠNG TÀO SƠN

Cùng với những tên tuổi lớn làng rạng danh cho Họ Lương Việt Nam như Trạng nguyên Lương Thế Vinh (Cao Hương - Vụ Bản), Bảng nhãn Lương Đắc Bằng (Hội Trều - Hoằng Hóa)..., họ Lương Tào Sơn - Ngọc Sơn (Tĩnh Gia) có thêm những gương mặt xuất sắc là Hoàng giáp Lương Chí và các cháu Lương Nghi, Lương Lâm đều học hành đỗ đạt, được ghi vào sử sách. Ngày nay, con cháu họ Lương Tào Sơn đang tiếp nối truyền thống hiếu học, góp phần tô điểm cho quê hương đất nước.



TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG XƯA CỦA HỌ LƯƠNG TÀO SƠN

1. Khoa thi năm Kỷ Sửu (1589)

ĐỆ NHỊ GIÁP TIẾN SĨ XUẤT THÂN:
 (         )
TT
Họ và tên
Huyện
1
Lê Nhữ Bật              
Vĩnh Trị           
Hoằng Hóa       
2
Lương Chí                   梁疐
Tào Sơn           
Ngọc Sơn         

ĐỆ TAM GIÁP ĐỒNG TIẾN SĨ XUẤT THÂN:
        )
TT
Họ và tên
Huyện
1
Lương Khiêm Hanh     謙亨
Hội Triều           
Hoằng Hóa       
2
Lê Đình Túc                廷肃
Nhân Cương      
Nông Cống       

2. Khoa thu Quý Mùi (1643)


ĐỆ NHỊ GIÁP TIẾN SĨ XUẤT THÂN:
        )
TT
Họ và tên
Huyện
1
Nguyễn Khắc Thiệu     
Hà Khẩu             
Thọ Xương      
2
Lê Hiệu                           棃敩
Quan Trung        
Đông Thành    

ĐỆ TAM GIÁP ĐỒNG TIẾN SĨ XUẤT THÂN:
        )
TT
Họ và tên
Huyện
1
Lê Đình Dự                
Nhân Mục        
Thanh Trì          
2
Lê Trí Trạch              
An Nhân         
Chương Đức     
3
Phan Đức Toàn          
Địa Linh         
Thụy Nguyên    
4
Lê Quỳnh                       梨瓊
Hoàng Mai      
Quỳnh Lưu     
5
Lương Nghi                     
Tào Sơn          
Ngọc Sơn      
6
Nguyễn Văn Bảng      
Lãm Dương    
Quế Dương     
7
Vũ Lương                       武良
Mô Trạch        
Đường Yên     

3. Khoa thi Ất Mùi (1715)

ĐỆ NHỊ GIÁP TIẾN SĨ XUẤT THÂN:
        )
TT
Họ và tên
Huyện
1
Bùi Sĩ Tiêm            
Đông Quan   
2
Nguyễn Quý Đức    
Từ Liêm        

ĐỆ TAM GIÁP ĐỒNG TIẾN SĨ XUẤT THÂN:
        )
TT
Họ và tên
Huyện
1
Phùng Bá Kỳ               
Vĩnh Già              永迦
Yên Lạc          安樂
2
Nguyễn Nham                 
Bằng Xá               憑舍
Thạch Thất      
3
Cao Dương Trạc          
Phú Thị                富市
Gia Lâm         嘉林
4
Đậu Đình Thụy            
Yên Lãng              安浪
Lôi Dương      
5
Dương Bạt Trạc          
Cổ Lễ                     古礼
Nam Trực       南直
6
Ngô Nhân cân              
Cẩm Chương         錦章
Đông Ngạn     東岸
7
Nguyễn Công Thái       
Kim Lân                金辚
Thanh Trì        清池
8
Nguyễn Tuyền                阮鰁
Mao Điền              毛田
Cẩm Giàng     錦揚
9
Nguyễn Đức Anh        
Phật Tích              袚跡
Tiên Du          仙遊
10
Nguyễn Ân Tiêm        
Yên Lâm               安林
Yên Định        安定
11
Lương Lâm                  梁霖
Tào Sơn                曹山
Ngọc Sơn        玉山
12
Lê Hoàn Viên             
Bát Trường           缽塲
Gia Lâm          嘉林
13
Hoàng Đăng thọ          
Đại lý kH                    大里
Thuần Lọc       淳禄
14
Đinh Nguyên Hanh      
Kim Lan               金谰
Gia lâm            嘉林
15
Nguyễn Đình Quý       
Nguyệt Áng           月盎
Thanh Trì        清池
16
Nguyễn Phùng Thời      
Hoa Lâm               花林
Nam Đường    南唐
17
Nguyễn Kiều                  
Phú Xá                   富舍
Từ Liêm          慈廉
18
Lê Cận                          梨饉
Nam Hoa Đông   
Thanh Chương 青章


SỐ BIA CÁC TIẾN SĨ TẠI VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM

Số bia
HỌ VÀ TÊN
KHOA THI
NĂM DỰNG
20
Lương Chí
Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân
Kỷ Sửu 1589
Quang Hưng thứ 12
Thịnh Đức 1
1653
36
Lương Nghi
Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
Quý Mùi 1643
Phúc Thái 1
Thịnh Đức 1
1653
60
Lương Lâm
Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
Ất Mùi 1715
Vĩnh Thịnh 11
Vĩnh Thịnh 13
1717
  
Người Họ Lương